YÊU SAO NHỮNG HẠT PHÙ SA

image large 23t8cv5iy3 YÊU SAO NHỮNG HẠT PHÙ SA

 

                (Đọc Tự tình sông, tập thơ của Thu Hồng, NXB Hội Nhà văn- 2012)

           Tập tin chỉ hơn năm mươi bài thơ mà đến lần thứ ba tôi mới nhận được email của Thu Hồng gởi, kèm thông tin: Rất ít thơ tình. Một “ Tự tình sông” như thế này sao gọi là ít?!… Theo tôi còn là của hiếm. Nói là hiếm vì xưa nay Thu Hồng đã từng thành công về thể loại văn xuôi, chị xuất bản hai tập truyện ngắn. Thế thì “ Tự tình sông” không là của hiếm hay sao. Có đọc hết tập thơ ta mới thấy cô giáo, nhà thơ Thu Hồng dành trọn cảm xúc chân tình chăm chút với nghề dạy học, với làng quê, với công dân Việt Nam đã có những định hướng và chọn lựa cho mình lí tưởng sống vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. 
 Với chị, tình yêu quê hương bắt nguồn từ nỗi nhớ. Không nhớ sao được nơi mẹ đã từng chôn cất nhúm nhau khi chị vừa cất tiếng khóc chào đời. Trong sâu thẳm ấy, tiếng thơ nhẹ nhàng hòa trong hơi gió hơi sương cho trắng cánh cò bay rợp đồng cỏ mẹ xanh đến ngút ngàn trời xanh kia: 
 Làn gió mát ru hời điệu – nhớ!
 Sợi tơ mênh mang nối nhịp cầu
 Cánh cò bay rợp đồng cỏ mẹ
 Một cõi đi về – chốn chôn nhau
!” / (Về nơi ấy)

          Chị tìm về nơi ấy ” …sau nhiều năm xa cách / Nhìn hàng cây nhớ dáng mẹ buổi chiều/ Bửa miếng cau xanh nhai trầu bỏm bẻm/ Góp rau tập tàng đời mẹ chắt chiu” ( Quê mẹ nghĩa tình), cơ cực trong gian lao vất vả mới thấu hết ý nghĩa cuộc đời. Qua khó khăn đủ thử thách tình người. Đất mẹ vun trồng nuôi dưỡng chị lớn lên, nâng tâm hồn bay cao bay xa đến tận ngọn nguồn sông nước, Thu Hồng nhận ra được vẻ đẹp của non sông, của bàn tay lao động cần cù, của nền khoa học tiên tiến bồi thêm đất nước nở hoa đượm sắc hương lan tỏa:
                Tiếng đàn chao nghiêng sông Ba Hạ
                Hòa sóng nước thủy điện bay xa
                Vang vọng bản hùng ca:
                Nguồn sáng – Ơ…ơn Đảng!
                Xua tan tăm tối hỗn mang
                Văn minh hiện bên bếp nhà sàn
                
                Vang vọng khúc tình ca:
                Nguồn sáng – Ơ… sao sa!
                Rượu cần thắm mắt môi sơn nữ
                Vòng xoan mở rộng đêm thăng hoa” / ( Đêm Sông Ba)
        Phải nói rằng, Thu Hồng có một trái tim rộng mở đón tình yêu lớn, chị nhận ra guồng máy sinh hoạt đời sống vật chất, tinh thần thường ngày của nhân dân ta được nâng cao hơn đều dựa vào nguồn thủy điện cung cấp. Ánh sáng mùa xuân đất nước đâu chỉ có ở thành thị, đồng bằng mà đến tận buôn làng, miền cao niềm vui ngây ngất, tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng: “ Ting ting ting…tờ ring…/ Uập uập uập… bùm bum…/ Bập bùng lửa sáng /  Trai Chăm, Ba – na ngực vồng lên như đồi cao/  Mắt gái làng lóng lánh hơn chim công chim phí / Tay nắm tay vòng xoan rộng mở / Đắm say, ngất ngây rượu cần môi thắm/ Người người nở nụ cười tươi/ Tết vui! Suối hát miên man. (Tết Buôn Làng). Mỗi câu thơ trong Tết Buôn Làng cứ dặt dìu, tiếp nối sức sống trào dâng như nhịp tim thôi thúc. Chính vì vậy đề tài viết về miền núi trong Tự tình sông liền mạch không vơi. Chị có một “ Mí Ê- đê ngực trần bầu sửa nóng/ Xõa tóc dòng suối mát trong/ Dáng cao như bóng núi/  Vun đắp chở che giấc nồng” ( Gọi mùa). Chị có một “ Cồng chiêng ngân vang thôi thúc / Điệu nhảy Arap gọi mời…” (Vui cùng Arap). Chị có một “ Bếp hồng nhà sàn rộng mở / Tung tăng trẻ đến trường làng…” ( Nồng ấm buôn làng). Và chị lại có “ Ánh mắt ai sau làn mưa giăng?!/ Em ngỡ mình là hoa biên giới” ( Riêng một khoảng trời)…Ấm áp, mát mẻ, trong lành quá. Bởi mỗi cành hoa, bóng cây, con suối, tiếng cồng chiêng, bếp lửa, nhà sàn,… là sức thu hút không vơi đã làm nên vẻ đẹp riêng trong mỗi tứ thơ của chị. 
            Cùng với hình ảnh “ Ngày ấy cô du kích nhỏ / Sao trên mũ cười trong veo/ Anh hành quân qua lối cỏ/ Hoa sim tím ngắt lưng đèo…”có còn nhớ chăng những năm tháng sục sôi máu lửa, cả dân tộc quyết diệt thù thì: “ Tình riêng tim nồng ấp ủ/ Trường sơn cách trở mưa thu…” (Lối về), cho ta trân trọng yêu hơn tuổi thanh xuân trong khói lửa chiến tranh thuở nào. Niềm tự hào biết bao: “ Hải đảo xa anh vững vàng tay súng / Trời bình yên mặt biển lung linh!” và không xa đâu “ Gần lắm Trường Sa ngay giữa tim mình” ( Trường Sa bên em). Đọc đến đây tôi thầm cảm ơn Thu Hồng, cô giáo, nhà văn- nhà thơ đã trải lòng mình với những công dân bình dị chân chất tham gia kháng chiến để rồi thành những anh bộ đội, những cô du kích, những thanh niên xung phong có mặt trên mọi tuyến đường Tổ quốc, sau những ngày hòa bình thống nhất thăm lại căn cứ năm xưa: “ Có người từ Ban Mê…/ Về thắp nhang cho Mẹ / Cùng tìm mồ đồng đội / Thăm nghĩa tình bao năm!… Rồi câu chuyện mở ra: “ Má ở nhà thường kể: ” Cử, Chiểu, Nuôi thật thà / Chinh, Hùng, Linh gan góc…” ( Thắm tình đất Đa, Tặng các đồng chí tiểu đoàn 405 đóng quân căn cứ Đa Lộc- Bình Tây từ năm 1960- 1974). Người còn hôm nay lại nhớ về người đã khuất, nén nhang rưng rưng khi: “ Tìm về Ngã Ba Đồng Lộc/ Truông Bồn bom xé đạn gào/ Thoảng đưa hương bồ kết/ Chị về ngọn cỏ lao xao” ( Chân dung) để thành tâm: “ Xin ngắm môi hồng các chị/ Vẽ chân dung của một thời/ Yêu thương từng đôi mắt sáng/ Thắp lửa tim mỗi cuộc đời”. Phải chăng hình ảnh của những ngày ra trận còn lại là những bức chân dung, là kí ức lưu giữ trong mỗi trái tim, trong từng trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam: “ Ta lại kì công tạc trong trái tim/ Hình tượng Mẹ- sáng ngời Tổ quốc” ( Tạc tượng).
          Điểm nổi bật Tự tình sông là lòng biết ơn sâu sắc với Bác Hồ:
                        Bác ơi! Đất nước đẹp tươi
                         Trời xanh nắng trải rạng ngời quê hương…
                         …Sen thơm ngát tấm lòng vàng
                         Còn in dấu dép Bác ngang sân đình!” / ( Hoa Sen dâng Bác)
          Là nỗi nhớ âm thầm tha thiết khi cuộc sống yên vui, no đủ tiếng cồng chiêng rộn ràng: “ Dân không còn đói khổ/ Dân không còn gieo neo/ Dân nghe lời Bác dạy/ Làm ăn để thoát nghèo” ( Cồng chiêng nhớ Bác). Dù: “ Nay Bác đi xa lắc/ Gợi nỗi nhớ âm thầm/ Làng Chăm vào hội lớn / Bác còn mãi ghé thăm! ( Bụng người Chăm ưng lắm!). Có lẽ Thu Hồng từng sống, từng gắn bó đêm ngày mới thấu hiểu hết cái bụng cái dạ của người làng Chăm, mới viết dùm cảm xúc, suy nghĩ mộc mạc cứng cáp như cây rừng lâu năm, trong veo như con suối ngàn đời đâu thể nào thay đổi.
        Chị yêu lắm nghề dạy học suốt đời tận tụy vì lợi ích trăm năm, chị hiểu được nỗi khó khăn khi các giáo viên về vùng kinh tế mới Đa Lộc công tác từ những năm 79- 82: “Lèo tèo nhà tranh sậm màu vách đất / Tiếng kẻng Tập đoàn xao động bình minh” còn “ Học trò đầu trần áo vá vai chân đất / Đạo lí làm người tựa nắng ban mai! / Thiếu gạo thừa sốt rét / Thiếu muối ấm tình thân…/Bóng núi cao như hồn quê yêu dấu / Sông cạn đá mòn tình thầy trò có mòn đâu” (Bóng núi). Cách vận dụng thành ngữ Sông cạn đá mòn, một hình ảnh rất cụ thể dù phải trải qua thời gian lâu dài cả trăm năm, ngàn năm,… sông có thể cạn đi, đá có thể mòn nhẵn còn tình cảm con người, tình thầy trò thắm thiết há mòn sao! Để thấy được dù ở nơi đâu, hoàn cảnh nào nhân dân ta vẫn nâng niu gìn giữ truyền thống”Tôn sư trọng đạo”. Nét đẹp của lòng biết ơn trọng thầy mới được làm thầy xưa nay là vậy.
        Thơ Thu Hồng chính là thơ của dân tộc, của thời đại theo từng chặng đường tiếp nối. Chị ngợi ca cái đẹp mà nói như R. Tagor thì cái đẹp có ý nghĩa trường cửu của hiện thực. Ta không thể chối bỏ ” Lá hát đồi mơ”*, nơi ” Quê mẹ nghĩa tình”*, hay gần hơn” La Hai phố không xa”*, và nhất là cả khúc ” Tự tình sông”* như trang hồi kí sẻ chia cuộc đời mình từ tuổi thơ hồn nhiên trong sáng, nhưng không thể giữ mãi được. Cứ theo thời gian bồi đắp:
                  “ Dòng sông xuôi về biển cả
                     Ta nguyện làm hạt phù sa…” 
          Sự tự nguyện luôn có ý thức tích cực. Nguyện làm hạt phù sa trải khắp cánh đồng chữ nghĩa cũng là trách nhiệm của nhà giáo trên bục giảng, của người cầm bút trên mặt trận văn hóa đem lại lợi ích cho cuộc sống hôm nay. Và nếu như dòng sông không oằn mình gánh vác mang nước ngọt ngậm đầy phù sa từ đầu nguồn đổ về, thì hạt phù sa ấy há mà di chuyển được! Thu Hồng tri ân nguồn cội. Còn quanh chị là đồng nghiệp, là học trò, là người thân cho tình yêu nảy nở. Một chút “Mưa bóng mây”* ào ạc mà thoáng qua chỉ là “Khoảnh khắc gieo chi hạt nhớ? / Cút bắt trò chơi bóng mây” và có buồn thì nỗi buồn len lỏi mơ hồ nhè nhẹ: “ Phôi pha – hai lối rẽ/ Tình một sớm mong manh/ Sen phai hoàng hôn nhạt / Mây vẫn màu thiên thanh! (Hoàng hôn).

         Cả một Tự tình sông chỉ có ba bài thơ đơn thuần là lục bát. Cách gieo vần trong thơ lục bát rất dễ,  làm thơ lục bát khó có được những bài thơ hay. Chính vì vậy Thu Hồng đã chọn thể bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, hay bảy, tám chữ,… nhất là thể sáu chữ với nhịp đôi 2/2/2 hợp với điệu nói để mở ra vẻ đẹp của  không gian khoáng đãng, của đất nước rộng lớn, của niềm tin đới với Đảng, với cách mạng đâu chỉ riêng nhà thơ, đó là tiếng nói chung cả một dân tộc Việt Nam cần cù, anh dũng trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng  phát triển đất nước kể từ những năm bảy lăm thế kỉ XX đến nay. Tự tình sông đậm chất trẻ trung tươi tắn giàu tính nhân văn cao đẹp của con người thời đại làm tôi nhớ đến lời thủ thỉ của Tố Hữu trước đây: “ Mà nói vậy trái tim anh đó / Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ / Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều/ Phần cho thơ và phần để em yêu / Em xấu hổ thế cũng nhiều anh nhỉ /…”

22.8.2012.
Nguyễn Thị Phụng.

Cùng Danh Mục :

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>