Ngày xuân – Trịnh Anh Đạt

image large f24f52ev3p Ngày xuân   Trịnh Anh Đạt

Ngày xuân

                         VÀO VƯỜN THƠ DƯƠNG KINH

                         CHỌN TRÁI CÂY, BẦY MÂM NGŨ QUẢ

                                                                       Trịnh Anh Đạt

“Vườn thơ Dương Kinh” với tôi, trong mười năm qua chẳng khác nào “Cây nhà, lá vườn”. “Mùa nào, thức ấy” từ ông chủ, đến những người làm vườn cần mẫn, thực lòng, hào phóng mời thưởng thức các loại hoa thơm trái ngọt thu hoạch trong vườn nhà.

Tôi chẳng thể nào quên, lần đầu tiên được mời về nói chuyện với hội viên câu lạc bộ thơ Dương Kinh, về chủ đề “Thơ lục bát”. Ngày ấy số hội viên chỉ khoàng 1/ 3 so với số hội viên CLB hiện nay, nhưng đa phần là người cao tuồi. Thấm thoát đã 10 năm trôi qua. Những mầm hạt ươm trồng, bón chăm từ độ ấy, trong khoảnh vườn khiêm tốn ấy, bây giờ đã thành một trang trại, bốn mùa kết trái, đơm hoa. Để có thành công hôm nay, trước hết phải ghi nhận công sức to lớn của ông chủ trang trại. Vậy thì sản vật đầu tiên tôi lựa chọn không phải của ai khác, mà chính là của cụ Đặng Nam, chủ nhiệm câu lạc bộ thơ Dương Kinh. Ta cùng thưởng thức:

  

                                       Huyền thoại mẹ


Giếng xưa thăm lại bồi hồi

Nhớ ngày nát cỏ tơi bời xác hoa

Nơi đây giặc khảo giặc tra

Cắn răng…Mẹ chẳng khai ra giếng ngầm…

 

(Người đi kẻ đến bao lần

An toàn tính mạng dưới hầm ngụy trang!…)

 

Giặc về vây ráp xóm làng

Mẹ lo con đói, cơm mang cách nào?

Ống quần bên thấp bên cao

Giỏ cơm buộc bụng mẹ trao mỗi ngày

 

Ém trong hầm giếng mẹ xây

Mưa tràn ngợp thở, nước đầy ngách ngang

Tay gầu lòng mẹ xốn xang

Run run múc cả bàng hoàng đổ đi…

 

Giếng xưa cỏ mọc xanh rì

Đã thành huyền thoại thần kỳ… Mẹ ơi!…

 

Một bài thơ chỉn chu về vần điệu, lớp lang, cấu tứ và hình ảnh, không có câu, chữ nào độn, tự nhiên như chuyện thơ sinh ra phải thế: Một câu chuyện ngắn có thắt nút, cởi nút, được kể bằng thể thơ truyền thống, xúc tích, không cần chú thích, giải thích, đã truyền cảm xúc sang người đọc, làm họ cũng xốn xang, cảm động theo mạch dẫn của tác giả. Mỗi khi đọc bài thơ này, trong tôi lại vang lên khúc hát hào hùng của bài ca “Đất quê ta mênh mông” của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, phổ thơ Dương Hương Ly: “Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh/ Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc…/ Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh/ Hầm mẹ giăng như lũy như thành…/ Mẹ giấu cả sư đoàn dưới đất…” “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Phải thế chăng, những người mẹ Việt Nam anh hùng đã tham gia đánh giặc theo cách rất riêng của mình suốt từ cuộc kháng chiến chống Pháp tới thời kỳ đánh Mỹ. Hai bà mẹ Việt Nam Anh hùng xuất hiện trong thơ, sinh ra ở hai đầu đất nước, hòa vào nhau trong hai cuộc kháng chiến ái quốc vĩ đại, giống hệt nhau về trí thông minh và lòng dũng cảm. Cụ Đặng Nam là một lão thành Cách mạng ngót 70 tuổi Đảng, với lòng đam mê thơ ca, với ý thức, trách nhiệm công dân, cụ đã trở thành người viết “sử thi” trên chính quê hương mình.

Tôi nghĩ bài thơ “Huyền thoại mẹ” hội tụ đủ yếu tố về lịch sử lẫn nghệ thuật thi ca, nên chăng, lãnh đạo huyện Kiến Thụy cho khắc vào bia đá, dựng ngay nơi “Giếng xưa cỏ mọc xanh rì” để mãi mãi trở thành “Huyền thoại” sánh cùng với các địa danh Cách mạng khác của huyện nhà như: Đầm Bầu, Kính Trực, Cổ Trai…

Sự lựa chọn thứ hai, tôi nhắm đến cũng là một bậc trưởng lão, chỉ kém cụ Đặng Nam đúng 2 tuổi, là một cựu chiến binh, người con rể của Kiến Thụy, Hải Phòng, quê gốc tận Bình Định, vốn rất chú tâm với thể thơ Đường luật. Nhưng thật bất ngờ, thi phẩm được chọn lại là “lục bát”. Khi đọc và nghiên cứu bài thơ này, tôi có cảm tưởng thi phẩm viết theo thể thơ truyền thống của người Việt, như một võ sĩ vạm vỡ, tự tin thượng đài, khiến bao nhiêu “võ sỹ Đường luật” của tác giả, bỗng trở thành “võ sỹ hạng ruồi” tuốt.

                                         Ký ức hội làng

 

Hội làng mở giữa sân đình

Bao năm xa cách, vô tình gặp nhau

Môi ai vẫn đỏ thắm trầu

Mắt huyền như thuở ban đầu mộng mơ…

 

Mừng vui… quên cả chạy mưa

Ướt hai lần áo… vẫn chưa cạn lời

Hình như em nép vào tôi

Hình như bữa ấy đất trời chao nghiêng…

 

Tình đầu như ngọn lửa thiêng

Sáng bừng trong khoảng trời riêng mỗi người.

Bài thơ tình ngắn gọn, xúc tích, đọc hết, trong ta vẫn còn day dứt, bồi hồi, đây chính là lý do thành công của bài thơ. Đề tài không mới, và nhiều thi nhân đã trải lòng mình về những kỷ niệm “Mối tình đầu”. Sinh ra làm người, có lẽ ai cũng có một mối tình đầu của riêng mình, để mà ấp ủ, để mà nhớ mong. Qua thơ, đọc giả biết: Mối tình đầu của tác giả với một cô thôn nữ ăn trầu (Rất có thể nhuộm răng đen nữa) vào cuối thế kỷ trước, bất ngờ gặp nhau giữa hội làng đầu thế kỷ này, mà “thần tượng” vẫn không thay đổi: ” Môi đỏ thắm trầu…Mắt huyền như thuở ban đầu mộng mơ…” Họ mừng vui, cảm động đến mức: “…Quên cả chạy mưa / Ướt hai lần áo vẫn chưa cạn lời…” Không chỉ “quên chạy mưa” mà họ như quên tất cả “bàn dân thiên hạ” đang có mặt ở trong lễ hội. Tác giả say tình, nhưng rất tỉnh, còn biết mình “ướt hai lần áo” để rồi hạ một động từ đắc địa “cạn lời” khi cả đôi đang ướt sũng nước dưới mưa! Mối tình già nửa thế kỷ trôi qua, mà ở hội làng này, lần đầu tiên họ cảm nhận được hơi ấm da thịt của nhau, hơi thở hổn hển của nhau, đến nỗi tác giả bàng hoàng, xúc động như lạc giữa chốn thần tiên: “Hình như bữa ấy đất trời trao nghiêng…” …Tình yêu không có tuổi là vậy.

Nhưng cũng thật tiếc, chỉ còn gang tấc nữa, mạch thơ cán đích hoàn mỹ, thì bị chững lại bởi hai từ “Sáng bừng”. Theo thiển ý của tôi, nếu tác giả thay bằng tính từ “Lung linh” thì cặp lục bát kết thúc bài thơ, sẽ xuất hiện trong sổ tay của rất nhiều người yêu thơ:

 

“Tình đầu như ngọn lửa thiêng

Lung linh trong khoảng trời riêng mỗi người”

“Lung linh” là đủ độ, còn “Sáng bừng” là cách nói quá, có phần ngoa ngôn, e rằng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống vợ chồng hiện tại của cả đôi bạn tình. Hoặc giả, phản ảnh cuộc sống hạnh phúc của gia đình mỗi người có vấn đề…

Có một tác giả chú tâm làm thơ lục bát của CLB thơ Dương Kinh, là Nga Anh Hoàng. Anh có thơ đăng trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương, và anh cũng là hội viên của nhiều câu lạc bộ thơ trong thành phố Hải Phòng. Nhiều người yêu thơ biết tên tuổi của Nga Anh Hoàng từ bài thơ tình “Lúng liếng ơi”. Một soạn giả có ý định tuyển chọn bài thơ này vào tuyển “Thơ lục bát Việt Nam” Nhưng sách ra, tìm mục lục lại không có tên tác giả và bài thơ. Tìm hiểu mới hay, bài thơ đã được công bố trên tuần báo “Văn nghệ Trẻ” cùng trang thơ của CLB thơ Dương Kinh, cách đó ít năm, nhưng tác giả có cài thêm hai câu mới vào giữa bài; Theo soạn giả thì: “Chẳng khác nào người viết kẹp sạn vào miếng giò lụa” Tôi lấy làm tiếc cho tác giả. Anh chưa hài lòng với bài , nên “độn” vào, “thêm” vào, vô tình biến bài thơ thành “độc vần”. Việc “Vỗ tay bằng một bàn tay” xảy ra khá phổ biến ở các hội viên nắm không vững niêm luật thơ lục bát. Nga Anh Hoàng có sở trường về thơ tình, nhưng đọc tổng thể, chọn một bài đứng độc lập không dễ. Ví như bài “Phố huyện” có câu: “Đàn chim lướt khướt cánh chiều…” thì bài dẫn trên đã có câu:”… Sâm cầm đã lướt khướt bay ngang trời…” Vô tình tác giả tự “xả thịt” thơ mình. Câu chữ, hình ảnh, của bài thơ trước dùng vào bài thơ sau, cũng biến thành sạn! Đây là điều người làm thơ nên tránh, …Xin tiến cử bài “Mưa đôi” của Nga Anh Hoàng, trong mâm ngũ quả mùa này:

 

                                              Mưa đôi

 

Mưa hè rồi lại mưa ngâu

Mưa ra bong bóng từ đâu mưa về

Mưa xanh ướt cỏ bờ đê

Mưa mù trắng đất tràn trề biển khơi

 

Đường trơn em vịn vào tôi

Hóa thành một trận mưa đôi dập dìu

Giọt mưa – giọt ngọc nâng niu

Lưới thưa vớt cạn chút yêu muộn màng.

 

Che chung chiếc nón lá bàng

Dắt nhau đi thật khẽ khàng trong mưa

Mưa từ buổi sớm đến trưa

Cho dù mưa tạnh vẫn chưa ngớt lòng

 

Ước gì không có bão giông

Đôi ta đi đến tận cùng chân mây.

 

Có một điều trùng hợp, các tác giả thơ của CLB thơ Dương Kinh thường gặp nhau trong cảm xúc mưa. Có lẽ sinh ra và lớn lên ở một địa phương thuần nông, mưa đã tác động trực tiếp đến cuộc sống, đến sinh hoạt, đến tâm tư, tình cảm của những người cầm bút nơi đây. Ta đã gặp cơn mưa ở sân đình trong hội làng của Tô Tấn Khải, Tứ thơ lạ trong “Mưa đôi” của Nga Anh Hoàng, và đây là “Giọt mưa đêm” của Quang Khoảng:

 

                                           Giọt mưa đêm

 

Mưa đêm dột thấu nỗi lòng

Giọt ngoài lạnh lẽo, giọt trong nhớ thầm

Giọt nặng tình, giọt vô tâm

Giọt rơm rớm ướt. giọt tầm tã rơi

 

Giọt nào đầy, giọt nào vơi

Giọt nào vỡ cả khoảng trời đêm mưa

Quờ tay sang nửa giường thừa

Ngỡ như hơi ấm ngày xưa vẫn còn

 

Một thời hạnh phúc vuông tròn

Tưởng đâu biển cạn, non mòn chẳng lay

Lời thề xưa để gió bay

Chung tay rồi lại chia tay nghẹn ngào

 

Đêm mưa dội xuống ào ào

Giọt ngoài đời, giọt dội vào tận tim

Giọt mưa trôi dạt niềm tin

Khép đôi mắt lại vẫn nhìn thấy mưa.

 

Bài thơ đầy nỗi niềm. Một trái tim khao khát yêu thương, khao khát được vỗ về trong nỗi thất vọng, chán trường, và mệt mỏi. Tác giả hết trách đời, lại trách thân phận hẩm hiu của mình. Cố lý giải những mâu thuẫn giằng xé tưởng như không có lối thoát, bằng việc thông qua hình ảnh giọt mưa đêm. Quang Khoảng rất biết điều tiết tứ thơ, bởi vậy cách diễn tả của tác giả rõ ràng mạch lạc, hình ảnh và câu chữ chỉ khai thác đi chứ không khai thác lại. Với thể thơ lục bát, Quang Khoảng khá chắc tay. Đọc bài thơ nào của anh, ta cũng bắt gặp những câu viết bằng cảm giác, bằng sức tưởng tượng chứ không đơn thuần bằng trực giác, vì vậy thơ Quang Khoảng có hồn, có sức thuyết phục đọc giả, tránh được việc tả tình tả cảnh xuông nhạt. Nhưng nếu đem chữ ra “chẻ” thì có những từ ngữ dùng trong bài chưa chuẩn. Như câu: “…Giọt rơm rớm ướt, giọt tầm tã rơi…” Tra trong từ điển: “Rơm rớm” là động từ: Có nghĩa rớm ra chút ít trên bề mặt, như: Rơm rớm máu – Rơm rớm mồ hôi – Rơm rớm nước mắt…

Tóm lại chưa thành giọt. Giọt có nghĩa là sũng nước rồi, sao gọi là:”Giọt rơm rớm” được. “Tầm tã” là tính từ,(trời mưa hay nước mắt tuôn rơi) nhiều và kéo dài mãi không dứt. Thí dụ: “Trời mưa tầm tã” giọt: chỉ số ít, số đơn, bởi vậy không thể tả là “Giọt tầm tã” được.

Mê mải trong vườn thơ, tôi tình cờ “vấp” vào khá nhiều trái rụng non, chín ép, hoặc ép chín khi trái chưa già, (phải dùng vồ đập như đập mít non). Trong bài “Viếng mộ Nguyễn Bính” của tác giả V.L.N, có những câu: “…Đứng bên mộ cụ gọi hồn…” Dễ làm đọc giả hiểu: Tác giả là một ông thày phù thủy, chí ít thì cũng là ông thày mo, thày cúng, nên mỏng phần thơ. Đến câu sau thì vượt qua cả sức chịu đựng của người đọc:”…Ngàn năm lưu niệm ghi công ơn Người…” Người ở đây là chỉ Nguyễn Bính! Xin thưa, ngay đến Đại thi hào Nguyễn Du, hậu thế cũng chưa có ai tung hô đến mức này! Hoặc như tác giả C.T, trong bài “Ký ức dòng sông” Có những câu:”…Lửa than vàng rẹm tóc đầu/ Miệng cười hoen nhọ đôi bầu má thơ…”

Một cặp 6/ 8 lủng củng, tối nghĩa do việc ép vần, ép ý. Còn đây là những câu trong bài “Nỗi nhớ về làng” của Đ.T.V: “Mái đình đa phủ ngói son/ Tuổi thơ gọi mảnh trăng non múa rồng…” rồi “…Đò Đa Ngư chở nắng hồng, phù sa…” Đọc mãi cũng chẳng thấy thơ đâu. Đành phải thư giãn bằng một bài vè Bút Tre:

“Tiến lên! Ta quyết tiến lên

Tiến lên! Ta quyêt tiến lên hàng đầu

Hàng đầu rồi sẽ đi đâu?

Đi đâu không biết! Hàng đầu cứ đi!!!”

Nhìn chung những tác giả đã kinh qua một thời mặc áo lính, hoặc góp mặt trong đội ngũ thanh niên xung phong, thơ của họ viết về ký ức chiến tranh, về đồng đội, thường sâu và đằm. Như: Trần Tạo, Ngô Minh Trí, Phạm Thị Nhung, Hải Hà, Ngô Quang Khoát, hoặc các nhà giáo về nghỉ hưu tại địa phương: Lã Đắc Phước, Phạm Văn Cân, Bùi Trọng Thể, Đặng Trinh Tư, Nguyễn Minh Dương…Tác giả Ngô Phong Nhã, là một trong số hội viên đó,

Cánh võng

Gia tài lính có gì đâu

Ba lô một chiếc với câu quân hành

Rừng xanh rừng xanh rừng xanh

Võng tăng tự mắc là thành “nhà” thôi

Êm đềm như ngủ trong nôi

Hương rừng gợi nhớ về nơi quê nhà

 

Bây giờ võng cũ mắc ra

Cháu ngoan ngon giấc để bà hát ru:

“Quê hương sạch bóng quân thù

Nhớ hoài buổi ấy trăng lu cuối rừng…”

 

Giọng bà ru cháu rưng rưng

Hồng hào cháu tựa một vừng dương lên.

 

Đọc bài thơ của cựu chiến binh Ngô Phong Nhã, ta nhận ra niềm hạnh phúc của người lính trận trở về vô cùng giản dị. Sau bao ngày gian khổ hy sinh, họ không mơ về quyền cao, chức trọng, mà chỉ mơ một giấc ngủ yên bình cho đứa cháu đích tôn, như anh từng mơ trong bao năm chiến trận, nơi dày đặc đạn bom quân thù…Bài thơ gửi đến đọc giả một thông điệp: Dù trong hoàn cảnh nào, người lính vẫn tin tưỏng vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Niềm tin ấy đã thành sự thật, người lính thanh thản trở về với mái ấm gia đình, với lũy tre làng, góp sức lực còn lại xây dựng quê hương. Bài thơ không chọn chủ đề “Đao to, búa lớn” Chỉ là những kỷ vật thông thường, gắn bó với người lính, nhưng toát lên niềm khát vọng “Các thế hệ con cháu hãy tiếp bước cha ông, giữ vẹn nguyên mảnh đất Rồng Tiên này!” Đây chính là “Ý tại, ngôn ngoại” trong văn chương, mà người làm thơ luôn khát khao vươn tới.

Trên đây là mâm ngũ quả “thuần Việt”, đúng với nghĩa “Cây nhà lá vườn”, được lựa chọn theo góc nhìn riêng của tôi. Trong 10 năm duy trì sinh hoạt CLB một cách thường xuyên và đều đặn, ra ngót 10 tập thơ in chung, xuất bản nội bộ hàng mấy chục bản “Tin thơ” (Hai tháng ra một số) Hàng trăm lượt tác giả là hội viên của CLB có thơ đăng trên các báo trung ương và địa phương, như báo Hải Phòng, Tạp chí Cửa Biển, báo Người Hà Nội, báo Người cao tuổi, và còn được tuyển vào các tập thơ đồ sộ của quốc gia.Tôi nghĩ hiếm có một câu lạc bộ thơ cấp quận, huyện nào gặt hái được nhiều thành công như vậy. Cũng 10 năm ấy, có rất nhiều tác giả ra được tập thơ riêng, ít nhiều để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc. Đó là cụ Đặng Nam, chủ nhiệm CLB, bác Quang Mên phó chủ nhiệm CLB, cựu giáo chức Lã Đắc Phước, Bùi Trọng Thể, Nhà thơ trẻ Bùi Thị Thu Hằng…

Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến sự quan tâm sát sao và giúp đỡ tận tình đầy trách nhiệm của các cấp lãnh đạo từ thành phố đến huyện, đó là Hội LHVHNT, ban tuyên giáo thành phố Hải Phòng, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, ban tuyên giáo huyện Kiến Thụy… Các nhà văn, nhà thơ của Hội Nhà văn Hải Phòng, như Nhà thơ Hồ Anh Tuấn, Trịnh Anh Đạt, Hoài Khánh, Minh Trí…Đã đồng hành cùng CLB thơ Dương Kinh suốt 10 mùa xuân qua.

Thành phố San Francisco, mùa lá rụng 2013

T.A.Đ

Cùng Danh Mục :

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>